Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới

Sau bốn thập kỷ hoạt động nghiên cứu và đào tạo, giáo sư Hà Huy Khoái và viện Toán của ông lần đầu cảm nhận được rõ rệt rằng, dường như đang mở ra một “giai đoạn mới” cho các nhà nghiên cứu ngành toán trong nước, đặc biệt là khi người học trò xuất sắc của ông – Giáo sư Ngô Bảo Châu, trở thành ứng viên số một của giải thưởng Fields danh giá.
Nhân sự kiện này, giáo sư Hà Huy Khoái đã dành thời gian trò chuyện với phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị.
Lý giải “hiện tượng Ngô Bảo Châu”
Được biết, nhiều năm qua giáo sư thường xuyên tham gia giảng dạy đội tuyển Olympic toán của Việt Nam mà trong đó Ngô Bảo Châu là một trong những thành viên. Bây giờ, Ngô Bảo Châu đã là một tên tuổi lớn của toán học Việt Nam và toán học thế giới. Giáo sư lý giải như thế nào về “hiện tượng Ngô Bảo Châu”?
Tôi có dạy một số buổi ở đội tuyển của Ngô Bảo Châu trước khi lên đường đi thi Olympic toán quốc tế khi Châu còn học phổ thông. Đó là một người tài năng xuất chúng, một người đặc biệt kiên trì, có ý chí vô cùng lớn, dám dấn thân, đặt cả sự nghiệp của mình vào toán học. Từ khi làm luận án tiến sĩ đến nay, Ngô Bảo Châu không thay đổi mục tiêu lớn đã đặt ra từ đầu, mặc dù đó là một đề bài vô cùng khó.
Ngô Bảo Châu có một phẩm chất xứng đáng là nhà khoa học: sự tự tin và anh may mắn được làm việc tại một trung tâm toán học lớn, có đủ điều kiện để theo đuổi đam mê toán học. Và chính ở đây, với những yếu tố hội đủ, “xác suất đã xảy ra”! Nếu không hội đủ các yếu tố trên, rất khó có “hiện tượng Ngô Bảo Châu”!
Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới
GS.TSKH Hà Huy Khoái sinh tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1963, ông là sinh viên toán đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1978, ông bảo vệ luận án tiến sĩ và năm 1984 là tiến sĩ khoa học tại viện Toán học, viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Từ năm 2001 – 2007, ông là viện trưởng viện Toán học Việt Nam. Năm 2004, ông được bầu là viện sĩ viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba, là phó chủ tịch hội Toán học Việt Nam, uỷ viên hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, chủ tịch hội đồng Chức danh giáo sư ngành toán (2009 – 2015), uỷ viên hội đồng khoa học ngành toán của quỹ Nafosted.
Giáo sư đánh giá thế nào về giải thưởng Fields danh giá (được ví như giải Nobel dành cho toán học) dành cho các nhà toán học trẻ dưới 40 tuổi mà thời điểm này, Ngô Bảo Châu của chúng ta đã gần như cầm chắc trong tay?
Đến giờ phút này, tôi tin giải thưởng sẽ thuộc về Ngô Bảo Châu. Đây là một vinh dự mà không nhiều quốc gia đạt được. Một đất nước có truyền thống như Đức, cũng chỉ mới một lần. Trung Quốc, là một quốc gia mạnh về toán, cũng chưa từng có. Thế mà Việt Nam có Ngô Bảo Châu dành được, thật không tưởng tượng nổi. Giải thưởng Fields chỉ trao cho các nhà toán học xuất sắc dưới 40 tuổi, đây là độ tuổi người làm khoa học có thể có được những ý tưởng xuất sắc nhất, cách mạng nhất.Tôi nghĩ, 14g ngày 19.8.2010 (giờ Việt Nam) sẽ là thời khắc quan trọng đi vào lịch sử Việt Nam như một điều kỳ diệu.
Xã hội hồi trước coi trọng toán học hơn bây giờ
Thuở viện Toán Việt Nam mới thành lập, có ai nghĩ rằng sẽ có ngày hôm nay, Việt Nam có thể tỏa sáng trên bản đồ toán học thế giới…
Lúc ấy chúng tôi ít nghĩ xa xôi. Chỉ thích toán và làm toán. Xã hội hồi ấy coi trọng toán học hơn bây giờ. Những nhà lãnh đạo như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Giáo dục Tạ Quang Bửu rất quan tâm toán học, coi toán học là nền tảng của mọi khoa học và có khuynh hướng chọn những học sinh giỏi nhất gửi đi nước ngoài học toán. Bây giờ, người học đi sang nhiều ngành nghề khác do xã hội có nhu cầu, nhưng những người giỏi nhất không phải đều học toán mà chỉ có những người say mê toán mới học toán.
Thưa giáo sư, có một sự thật là, những năm qua, ngoài những dịp học sinh của ta đi thi Olympic toán có thành tích cao được nhiều người biết đến, trong khi ngành toán trong nước nói chung có vẻ trầm lắng…
Tôi có lần đã ví toán học cần cho cuộc sống như không khí, nhưng không khí thì trong suốt, ai cũng cần nhưng không ai chịu bỏ tiền làm sách, đó là chưa kể người ta sinh ra đã sống trong không khí nhưng lại phát hiện ra nó rất muộn, dùng nó mà lại không nhận ra nó. Toán học trong đời sống cũng vậy. Ảnh hưởng bề ngoài của toán học đối với xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở trên thế giới, không lớn hơn so với các lĩnh vực bề nổi khác. Số người biết đến Ngô Bảo Châu chắc sẽ ít hơn số người biết đến cầu thủ Lê Công Vinh hay ca sĩ Hồ Ngọc Hà…Đổi lại là chúng tôi được làm việc mình thích, cho nên nếu có “hy sinh” cho toán học thì cũng là sự công bằng. Ai đã đi theo toán học, thì phải từ bỏ giàu sang, quyền lực và sự nổi tiếng. Có thể nói, từ khi bước vào cơ chế thị trường cho đến gần đây, với chủ trương “tự sống”, các ngành khoa học cơ bản trong đó có ngành toán gặp rất nhiều khó khăn. Đây là lĩnh vực cần thiết có sự đầu tư lâu dài. May là một hai năm lại đây, khoa học cơ bản trong đó có ngành toán được xã hội và nhà nước chú ý hơn một chút…
Ngô Bảo Châu và “vận mệnh” ngành toán 10 năm tới
Là người từng giữ cương vị cao nhất ở viện Toán nhiều năm, theo giáo sư, ngoài lương, nhà nước nên có những chính sách nào đủ sức hấp dẫn chất xám từ bên ngoài, giúp ngành toán Việt Nam có thêm nhiều Ngô Bảo Châu trong tương lai?
“Thu hút người tài từ bên ngoài là rất cần, nhưng song song với việc đó, phải tạo điều kiện cho người trong nước phát triển tốt vì đây là lực lượng chủ yếu”.

Hiện đã có những tiến bộ hơn trước như việc thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ, từ chỗ chi dàn trải 50 triệu đồng cho 1 đề tài thực hiện trong 1-2 năm với hàng chục người làm, đến chỗ được phép trả thù lao khá hơn, có tính khích lệ hơn như chủ nhiệm đề tài trong 2 năm được nhận thù lao 17 tháng, mỗi tháng khoảng 12 triệu đồng; người làm nghiên cứu chủ chốt, mỗi tháng được nhận 7 triệu đồng… Đây là một tín hiệu tốt, một cuộc cách mạng. Nếu phát triển theo hướng này, sẽ có những thúc đẩy rõ nét đối với khoa học cơ bản trong nước. Rõ ràng là đồng lương không làm cho nhà khoa học giàu nhưng phải đủ để giúp họ yên tâm làm việc, vì người muốn làm giàu sẽ không chọn làm khoa học.
Hai chữ “giàu - nghèo” là sự chi phối có thật đối với cả người giỏi toán và người mê toán. Việc nhà toán học Ngô Bảo Châu hàng năm vẫn về nước dạy, được trả lương mức cao nhất 5 triệu đồng/tháng, chỉ bằng một ngày lương đi dạy ở nước ngoài, cho thấy đời sống của người làm khoa học trong nước nói chung, trong đó có các nhà toán học, chưa đủ mạnh để tạo nên những “đột biến”, thưa giáo sư?
Ngô Bảo Châu và vận mệnh Toán học Việt Nam 10 năm tới
GS Ngô Bảo Châu tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) ngày 13.8, trước giờ lên đường sang Ấn Độ dự hội nghị Toán học thế giới. Ảnh: Ngọc Hà
Nghề toán cũng như lĩnh vực khoa học cơ bản nói chung đều nghèo, rất khó khăn cho thế hệ trẻ để họ có thể kiên định đi theo con đường này. Nhất là khi nhìn ra bên ngoài, thấy có nhiều ngành nghề khác dễ giàu hơn… Trong nước thì vậy, với những sinh viên du học nước ngoài, cũng không chỉ ít về nước làm việc mà còn không dám đi theo nghề toán. Tuy nhiên hiện nay, ở viện Toán, có khá nhiều bạn trẻ say mê toán. So với những người trẻ, chưa chắc họ đã thuận lợi hơn vì thế hệ chúng tôi yên tâm say mê toán học hơn họ. So với các khoa toán ở các trường, lực lượng ở viện khoảng 100 người là không nhiều lắm, nhưng là lực lượng chủ chốt trong cộng đồng toán trong nước, có đóng góp đáng kể: có nhiều công trình nghiên cứu, chiếm khoảng 50% số bài đăng trên các tạp chí toán quốc tế có uy tín…
Mỗi năm có khoảng 150 -200 người bảo vệ luận án tiến sĩ toán tại viện. Với nhiều người Việt làm ngành toán ở nước ngoài, hàng năm vẫn về nước tham gia đào tạo, tìm học bổng… nhằm giúp ngành toán trong nước phát triển một cách tự phát, chủ yếu là với nhiệt tình cá nhân. Trong khi đó, nhà nước vẫn chưa có chính sách thu hút nhân tài thực sự hiệu quả. Tôi hy vọng trường hợp Ngô Bảo Châu, anh vẫn đi về đó thôi, vấn đề quan trọng là mở ra một thay đổi đột phá trong chính sách, tạo môi trường nghiên cứu khoa học một cách tự do của nhà nước. Phải nói rằng Ngô Bảo Châu đã làm cho các nhà lãnh đạo nhận ra vấn đề quan trọng về nguồn nhân lực cho các ngành khoa học cơ bản trong nước một cách rõ rệt hơn.
Vậy, nói rõ hơn, “sự kiện Ngô Bảo Châu”, theo giáo sư, sẽ không chỉ là câu chuyện một người Việt Nam trẻ tuổi dành được giải thưởng “Nobel toán học”, mà còn là câu chuyện rất lớn liên quan đến “vận mệnh” của ngành toán thời điểm này?
Để cải thiện tình hình đời sống toán học trong nước, phải nói thẳng là viện Toán không đủ khả năng ngoài việc cố gắng nâng cao chất lượng nghiên cứu, đào tạo và đó là lý do tồn tại của viện 40 năm qua. Nhưng, từ năm 2007, cùng với bộ Giáo dục – đào tạo, viện Toán, hội Toán và một số trường đại học đã xây dựng Chương trình phát triển toán học trong 10 năm (2011 - 2020) với những mục tiêu phát triển toàn diện, đòi hỏi đầu tư tương đối lớn: 800 tỉ đồng. Toán học Việt Nam chưa bao giờ nhận được con số đầu tư cỡ đó. Tôi chưa biết chương trình có được chấp nhận hay không, nhưng khi đệ trình, lần này lần khác vẫn bị phản đối và chưa được thông qua. Nếu được thông qua, toán học sẽ được thúc đẩy phát triển một bước mạnh mẽ và từ đó thúc đẩy các ngành khoa học cơ bản khác phát triển.
Như thế, sự kiện Ngô Bảo Châu có thể coi là một “cú hích”, một may mắn lớn cho ngành toán trong nước. Sự kiện đó có một ý nghĩa rất lớn đối với những người làm toán học trong nước. Có thể chúng ta nhìn thấy được một số điều, nhưng còn có những điều rất lớn nữa chúng ta chưa nhìn thấy. Trong khoa học, vai trò cá nhân rất quan trọng. Tôi cho rằng Ngô Bảo Châu có vai trò này trong việc thay đổi “vận mệnh” ngành toán nước nhà.
Đầu tư cho giáo dục đang bị… hẫng
Trên trường quốc tế, học sinh phổ thông Việt Nam khá vẻ vang với các tấm huy chương vàng, bạc tại các kỳ Olympic toán học; nhưng ở bậc học cao hơn, thì vị thế quốc tế lại kém hơn (may mà tới đây Việt Nam sẽ được nhắc đến nhiều hơn với tên tuổi Ngô Bảo Châu). Tại sao vậy, thưa giáo sư?
Đây không phải là vấn đề của riêng lĩnh vực toán học. Tôi đã từng thử lý giải, tại sao học trò phổ thông giành nhiều đỉnh cao, lên đại học lại kém đi. Có lẽ vì ở bậc phổ thông, các gia đình đầu tư cho con cái rất lớn, tuy nhiên khi con vào đại học, thì việc đầu tư chỉ dừng lại ở chuyện ăn ở chứ không tiếp tục đầu tư cho việc học. Như thế, dẫn đến sự hẫng hụt. Việc đầu tư trở thành việc của nhà nước, chỉ còn nhà nước lo mà lại lo ở mức không thỏa đáng. Trong khi đó, muốn có nền giáo dục đại học ngang tầm quốc tế, phải đầu tư không kém, thậm chí là hơn. Trong giáo dục không thể dùng “gậy tầm vông” để có chất lượng. Mỹ dùng 1.000 USD thì Việt Nam phải 2.000USD, chứ không phải là 100USD, vì hiệu suất làm việc chúng ta kém hơn, trình độ thấp hơn. Thực tế thì đầu tư cho đại học của ta luôn ở mức rất thấp. Sinh viên của ta, nói chung trình độ thấp hơn các nước và càng lên cao trình độ càng thấp so với thế giới. Câu chuyện đầu tư cho giáo dục, do vậy phải là sự tổng thể của các nguồn lực: gia đình, xã hội, nhà nước… Họ trò xuất sắc bậc phổ thông mà ở bậc học cao hơn tiếp tục được đầu tư không thua các nước, thì kết quả cũng không thua các nước.
Tôi có ví von thế này: Một em bé Việt Nam tập gánh từ bé, năm 12 tuổi có thể gánh khỏe hơn một “ông Tây”, nhưng lớn lên nữa thì lại bị “còi”, vậy là gánh thua… Một vấn đề khác, xã hội Việt Nam vốn trọng bằng cấp, nhưng trọng một cách hình thức, ít khi phân biệt bằng cấp của trường này trường kia, tốt nghiệp loại gì, để nhiều người học giỏi ra trường lại thua cả người học kém hơn mình. Điều này khiến sinh viên không chịu nỗ lực để học giỏi. Do vậy, đổ lỗi giáo dục đại học kém chất lượng hoàn toàn do ngành giáo dục hay ông bộ trưởng là bất công. Phải thấy xã hội cũng có trách nhiệm trong việc này. Chừng nào xã hội còn không nhìn vào bằng cấp gắn với tên trường, thì tình trạng trên còn chưa thay đổi.
Nhiều người nói, làm học trò ở Việt Nam thì “mệt”, vì chương trình khó và nặng, nhưng làm học trò ở nước ngoài thì “sướng” , vì chương trình của họ nhẹ hơn, dễ hơn?
Tôi cho rằng học trò Việt Nam “mệt” không phải vì chương trình khó hay nặng mà vì phải học nhồi nhét nhiều thứ vô ích. Phần khác, do chương trình của ta chưa hợp lý, còn “đóng” quá, trong khi chương trình học của người ta được thiết kế có độ mở nhất định, “nặng” với người này nhưng “nhẹ” với người kia, để học sinh hơi non một chút vẫn có thể tiếp thu bài mà học sinh khá giỏi cũng có thể phát triển được.
Không chỉ là chuyện học nhiều, một số bà mẹ còn lo sợ chất lượng dạy chữ, dạy người ở trường nên phải cho con đi học thêm về kỹ năng sống!
Tôi nghĩ ở Việt Nam chuyện dạy chữ, dạy người đã bị phân biệt độc lập, thậm chí đối lập nhau. Sai. Dạy chữ cũng chính là dạy người. Nếu nói dạy chữ rồi mà trò chưa “thành người”, đó là do dạy chữ chưa tốt. Học chữ tốt, chắc chắn thành người tốt. Điều này có thể dẫn chứng vì sao dưới mái trường thực dân, chúng ta có được những nhà khoa học, nhà trí thức lớn như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa…Họ học được trong trường thực dân những kiến thức của nhân loại để từ đó trở thành những nhà khoa học yêu nước chân chính. Kiến thức nhân loại luôn tồn tại khách quan. Ai tiếp thu được nó thì sẽ “thành người”.
Theo Nhị Hà - SGTT

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

Lê Tuấn Hoa vào Hội đồng Toán học Thế giới

Phiên họp Đại Hội đồng của Liên Đoàn toán học thế giới (IMU- International Mathematical Union) đã kết thúc ngày hôm nay, sau 2 ngày làm việc tại Bangalor, Ấn Độ.

Đại hội toán học thế giới (ICM- Interrnational Congress of Mathematicians) sẽ diễn ra tại Hyderabad từ ngày 19- 27/8 là sự kiện trọng đại, nơi sẽ trao giải Fields trong phiên khai mạc, và sau đó là các báo cáo chuyên môn.

Còn Đại Hội đồng có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề về tổ chức, với 20 đề mục công việc khác nhau.

Chiều hôm nay, 17/8, Đại Hội đồng đã kết thúc thắng lợi, mặc dù các cuộc bầu cử diễn ra rất thẳng thắn và gay gắt.

Lần đầu tiên, Việt Nam có một đại biểu (duy nhất) tham gia Đại Hội đồng. Đó là GS. TS Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội toán học Việt Nam, Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam.

GS Le Tuan Hoa
GS Lê Tuấn Hoa
Trong phiên họp ngày 17, ngoài việc thông qua các nghị quyết và kết nạp các hội viên mới, công việc quan trọng nhất là là bầu Ban chấp hành IMU (Executive Committee- EC) có 10 thành viên. Kết quả như sau:

Chủ tịch: Ingrid Daubechies, ĐH Princeton (Mỹ)
Tổng thư ký: Martin Groetschel (Đức)
Phó Chủ tịch: Christiane Rousseau (Canada) và Marcelo Viana (Brasil)

6 ủy viên còn lại thuộc về các nước: Tây Ban Nha, Trung Quốc, Úc, Ấn Độ, Anh và Pháp. Mặc dù đã bầu xong, nhưng nhiệm kỳ thực sự bắt đầu từ ngày 01/01/2011.

Trong 2 ban chuyên trách của IMU, Ban có nhiều gắn bó nhất với Việt nam là Ban vì các nước đang phát triển (CDC- Commission for Developing Countries). GS Hoàng Xuân Phú, Viện toán Việt Nam đã trúng cử Ủy viên Ban “Vì các nước đang phát triển”.
Theo GS Lê Tuấn Hoa, đây là lần đầu tiên có một nhà toán học Việt nam tham gia vào một trong 3 cơ quan chức năng của  IMU.
Ban thứ hai là Ban quốc tế về lịch sử toán học. Có 6 cương vị lãnh đạo được bầu vào CDC: Chủ tịch- Jose Antonio de la Pexna (Mehxico), 2 thư ký về chính sách và tài trợ thuộc về Mỹ và Ấn Độ. Ba ủy viên còn lại thuộc về châu Á (1), châu Phi (1) và châu Mỹ Latin (1). 


Đại hội Quốc tế các nhà toán học (International Congress of Mathematicians viết tắt là ICM) họp từ ngày 19 đến 27-8-2010 tại Hyderabad, thành phố hơn 4 triệu dân, thủ phủ bang Andha Pradesh, nằm trên bán đảo Deccan bên vịnh Bengal, Ấn Độ - một đất nước có nền toán học cổ đại cũng như đương đại phát triển cao.

ICM họp 4 năm một lần, do Hiệp hội Toán học quốc tế (International Mathematical Union viết tắt là IMU) tổ chức. Số nhà toán học các nước đến dự vào khoảng 3.500 người. IMU có 71 quốc gia thành viên. Rất nhiều nước chưa phải là thành viên IMU, bởi vì chưa có đội ngũ nghiên cứu toán học. Chẳng hạn, trong khối ASEAN, thì Myanmar, Lào, Campuchia và Brunei chưa phải là thành viên IMU. Xa hơn, phía Đông-Bắc Á, thì CHDCND Triều Tiên vẫn chưa tham gia IMU, trong khi Hàn Quốc đã là thành viên từ nhiều năm rồi.

Việt Nam ta, nhờ có những nhà toán học tiên phong như Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm hết lòng chăm lo đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nghiên cứu toán học, mở các lớp trung học chuyên toán ngay từ những năm còn chiến tranh ác liệt, cử học sinh đi dự thi các olympic toán quốc tế, cho nên từ lâu nước ta đã là một thành viên tích cực của IMU. Tại nhiều kỳ Đại hội IMU, nhiều nhà toán học Việt Nam đã trình bày báo cáo ở các phân ban.

Theo Vietnamnet

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2010

GS Ngô Việt Trung: Theo đuổi đam mê là hạnh phúc

Hơn 50 tuổi đời, hơn 30 năm làm trong cơ quan đầu ngành về Toán học của Việt Nam, GS.TSKH Ngô Việt Trung - Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam luôn mang một nỗi trăn trở về những người kế cận, về niềm đam mê Toán học của lớp trẻ bây giờ.
May mắn đến từ những bất hạnh
Tự nhận mình là người gặp nhiều may mắn từ thuở nhỏ, cả giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2009 vừa nhận được ông cũng coi đó là một sự may mắn, song GS.TSKH Ngô Việt Trung chưa bao giờ “dựa dẫm” vào cái sự may mắn ấy mà chỉ coi đó là “món quà” do số phận mang lại cho mình.

Quê ông (xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi sinh ra và nuôi dưỡng nhiều người tài của đất nước như Hoàng Diệu, Phan Thanh, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phan Diễn, Hoàng Tuỵ... Ông bảo rằng mình học giỏi là nhờ gen của người cha. Cha ông học rất giỏi, đã từng đứng đầu kỳ thi Toán Đông Dương. Hồi đó, gia đình nghèo túng, cha ông được dân làng góp tiền thêm để theo học ở trường Quốc học Huế. Cha ông là một tấm gương sáng, song người đầu tiên dạy dỗ ông học hành lại là một người bác họ. Người bác này từng là một thầy giáo rất nghiêm khắc nên việc học hành của ông được ông bác chú ý rèn nắn hết mực.
GS.TSKH Ngô Việt Trung - Viện trưởng Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Namđược trao Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2009 trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên về Toán học.
Cái duyên Toán học đến với ông một cách rất tình cờ, chính ông cũng không nhớ rõ. Mang máng trong đầu ông bây giờ là hình ảnh cuốn sách “Toán học vui” ông vô tình tìm thấy trong nhà khi ông học lớp 2. Cuốn sách có nhiều bài toán đố, ô chữ toán học... hấp dẫn khiến ông khi ấy chăm chú, ngấu nghiến đọc. Từ chỗ học theo để đi đố lại bạn bè, ông đã thành thục nhiều phép toán, các mẹo làm toán trong ấy. Và sau này, suốt thời tiểu học, ông không gặp khó khăn nào trong việc học toán cả.
Tuổi thơ của ông gắn với nhà trẻ và những chuyến sơ tán. Bố mẹ ông đi công tác suốt, lúc đầu còn gửi ông ở nhà bác họ, sau rồi đành để ông ở nhà trẻ cho tiện. Nhà trẻ liên tục chuyển địa điểm do chiến tranh, ông cũng phải “hành quân” nhiều bận. Đến mỗi làng mới, khi đi học, ông lại bị bọn trẻ trong làng trêu chọc vì cái chân bị liệt của mình.
Về cái chân ấy, ông cho rằng đó là may mắn lớn đầu tiên trong đời mình. Hồi 3 tuổi, ông bị bại liệt cùng bao người khác trong một đợt dịch bệnh kinh hoàng. Mẹ ông vốn là y tá quân đội đã cấp cứu cho ông kịp thời, giữ lại được mạng sống nhưng nửa người bên trái của ông bị liệt hoàn toàn. Sau này tập luyện mãi mới hồi phục được, nhưng cái chân trái vẫn bị liệt suốt đời.
Đầu lớp 7, cậu bé Trung phải khập khễnh lê bước trên con đường mấp mô hơn 5 cây số đến trường, cứ đi một đoạn lại phải nghỉ lấy sức. Vì thế mà chân cậu bị vẹo đến mức phải dùng nạng mới đi lại được những năm sau đó. Cuối lớp 7 ông về học ở quê ngoại (xã Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội). Tại đây ông được chọn đi thi học sinh giỏi môn Toán. Đang muốn từ bỏ vì đường đi thi quá xa thì người thầy dạy toán của ông đã lấy xe đạp chở ông gần chục cây số đi thi. Nếu như không có người thầy ấy, có lẽ năng khiếu Toán học của ông không bao giờ được khơi dậy. Dù không được giải trong kỳ thi đó nhưng ông vẫn được chọn vào đội tuyển của huyện, rồi thi đỗ vào lớp chuyên Toán Hà Nội thuộc trường phổ thông 3B.
Tại đây, ông được rèn luyện trong một môi trường sư phạm thực sự, được một người thầy rất giỏi tận tâm chỉ bảo. Nhìn những người bạn cùng lớp vừa phải học vừa phải tăng gia, trong khi mình không thể làm gì với cái chân bị liệt, ông tự nhủ mình phải học thật giỏi để bù lại. Đầu năm lớp 10, ông bị một chảy máu màng não suýt chết, phải nằm viện 4 tháng.
Ra viện, bác sỹ chủ nhiệm khoa dặn bố mẹ ông không cho ông học tiếp nữa, đặc biệt là học Toán. Ông cố xin bố mẹ trở lại nơi sơ tán, hứa chỉ ở đó chứ không học. Nhưng rồi niềm đam mê Toán học đã giúp ông vượt lên số phận. Ngay sau khi trở lại trường một thời gian, ông đoạt giải nhất Kỳ thi toán học sinh giỏi toàn miền Bắc và đỗ đầu trong kỳ thi tuyển đi học nước ngoài.
Thêm một lần, số phận thử thách ông khi ông bị từ chối đi học nước ngoài vì cái chân liệt phải đi nạng. Đúng thời gian đó, một đoàn đại biểu của Đức sang làm việc tại Việt Nam. Cố Bộ trưởng Bộ Đại học Tạ Quang Bửu đã đàm phán xin cho ông sang Đức học toán. Tại Đức, ông đã hoàn thành xuất sắc luận án đại học và được chọn học chuyển tiếp lên Tiến sỹ. Sau khi về nước năm 1978, ông làm việc trong Viện Toán học từ đó cho đến nay.
Hạnh phúc là được theo đuổi niềm đam mê

Đến giờ, GS. Trung vẫn nhớ như in những ngày đầu mới về Viện Toán học làm việc. Đó là một thời kỳ vô cùng khó khăn. Viện còn rất trẻ, thiếu thốn đủ thứ, từ tài liệu nghiên cứu cho đến cả giấy trắng cũng không có. Mọi người, trong đó có ông, mỗi khi đi công tác đều cố gắng mang về những tài liệu mới do chính tay mình chép lại từ nước ngoài. Mỗi tháng, một cán bộ của Viện chỉ được phát có vài gam giấy đen, viết được một mặt.
"Hạnh phúc là được theo đuổi niềm đam mê".
Ông phải cóp nhặt từng trang giấy trắng để đánh máy các công trình gửi đi nước ngoài. Mỗi lần gửi đi, gửi lại phải mất đến cả năm trời mà lúc nào cũng thấp thỏm sợ công trình bị thất lạc. Chính trong những ngày tháng đầy gian khổ ấy, GS.TSKH Ngô Việt Trung đã có nhiều công trình đăng trên các tạp chí toán học quốc tế. Năm 1983, ông được phong hàm Phó Giáo sư khi vừa tròn 30 tuổi, và đến năm 38 tuổi, ông được phong hàm Giáo sư - là giáo sư trẻ nhất thời đó.
Công tác tại Viện Toán học đã hơn 30 năm, hơn 2 năm trong vai trò Viện trưởng, ông luôn băn khoăn, day dứt, trăn trở về tương lai cơ quan đầu ngành của Toán học Việt Nam. “Nếu cứ đà này thì chẳng mấy năm nữa, Viện Toán sẽ thiếu hụt nghiêm trọng những người có khả năng kế nhiệm những người đi trước, nhiều hướng nghiên cứu truyền thống không còn nữa.” Ông chua xót đưa ra một so sánh về Toán học Việt Nam và thế giới: “Năng lực nghiên cứu của cả ngành Toán học Việt Nam chỉ bằng một trường đại học vào loại trung bình ở phương Tây.”
Lý giải cho sự so sánh trên, ông cho rằng trong khi kinh tế ngày một phát triển thì Toán học Việt Nam lại gần như giậm chân tại chỗ. Những người đi du học ít khi chọn con đường trở về phục vụ tổ quốc không chỉ vì vấn đề tài chính mà còn vì họ không nhìn thấy tương lai của mình khi quay về. Lương trung bình của một nhà khoa học trong Viện Toán chỉ bằng người lái xe ôm, lương của Viện trưởng còn kém thu nhập lái xe taxi - như so sánh của GS Trung. Với một mức lương như vậy, liệu có bạn trẻ nào an tâm làm khoa học? Ngoài vấn đề lương bổng còn có vấn đề về vai trò và vị trí của người làm khoa học trong hệ thống xã hội.
“Tôi biết lớp trẻ bây giờ có rất nhiều người giỏi, nhiều em rất đam mê Toán học. Song để hướng các em đi đúng đường và để đảm bảo cho các em có thể theo đuổi niềm đam mê ấy không phải là điều đơn giản. Các trường đại học bây giờ nhiều nhan nhản, nhưng tôi có cảm giác người ta lập trường ra chỉ để cấp bằng cho người đi học chứ không phải là để đào tạo ra được những con người có trí thức.”

Ngẫm lại cuộc đời mình, ông chia sẻ: “Lớp trẻ bây giờ phần nhiều học một cách thụ động, ít người chủ động tìm hiểu xem mình phải học gì và học như thế nào cho tốt. Đặc biệt phải chịu khó mở rộng kiến thức của mình. Đã làm khoa học thì phải kiên trì mới thành công. Trong cuộc đời, được theo đuổi niềm đam mê của mình là một hạnh phúc không phải ai cũng có được.”
GS Ngô Việt Trung - Viện trưởng Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam được trao Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2009 trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên về Toán học. Ông đã hoàn thành xuất sắc các công trình nghiên cứu về Đại số giao hoán.
Các kết quả của GS.TSKH Ngô Việt Trung đã được đã được công bố trong 86 bài báo đăng ở những tạp chí toán học quốc tế, trong đó có 74 bài báo thuộc danh mục ISI. Chỉ tính từ năm 2000 đến đây đã có hơn 600 bài báo của các tác giả khác trích dẫn các bài báo của ông. Hầu hết các sách giáo khoa và chuyên khảo hay các hội nghị về Đại số giao hoán trong khoảng 20 năm gần đây đều nhắc đến các công trình của ông.
Dân Trí

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009

GS Lê Tuấn Hoa: "Nền Toán học Việt Nam có nguy cơ tiêu vong"

Toán học của nước ta hiện bị tụt hậu khá xa so với một số nước trong khu vực vốn kém hoặc không hơn ta như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và đang đứng trước nguy cơ bị tiêu vong.
Đó là ý kiến của GS Lê Tuấn Hoa, Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam phát biểu tại Hội thảo “Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học đến năm 2020” (tổ chức ngày 16/5, tại Hà Nội).
 

Đội tuyển Olympic Toán học Việt Nam 2008

 

Được xây dựng cơ bản từ năm 1954, đi lên từ con số 0, đến nay, Toán học nước ta đã được xếp vào loại khá trong các nước đang phát triển, có thể xếp vào hàng thứ 50-60 trên thế giới. Tuy nhiên, theo GS Tuấn Hoa, cách đây 10 năm, khi xác định các hướng khoa học công nghệ trọng điểm, Toán học không còn được đánh giá đúng mức.

 

Thêm vào đó, dưới tác động của kinh tế thị trường, số học sinh, sinh viên giỏi theo ngành Toán học đã giảm sút nghiêm trọng. Hậu quả là Toán học nước ta vừa ít về số lượng, vừa yếu về chất lượng. Vì thế một số nhân tố gây dựng được của nền Toán học còn rất non trẻ của nước ta bị “biến đi”.

 

Khó tuyển nghiên cứu sinh để gửi đi nước ngoài đào tạo

 

Theo số liệu thống kê của Viện Toán học Việt Nam, hiện cả nước chỉ có 30/322 trường ĐH trong cả nước đào tạo cử nhân hoặc sư phạm Toán. 

 

Tuy nhiên, trong đó chỉ có 15 trường ĐH là có khoa Toán riêng. Số tiến sĩ ở 15 trường này chiếm gần 50% giảng viên. Còn lại giảng viên có học vị tiến sĩ chiếm tỷ lệ thấp. Số giảng viên có học hàm GS, PGS lại thấp hơn nhiều…

GS Lê Tuấn Hoa cho biết, nếu so với đồng nghiệp ở nước ngoài thì toàn bộ số giảng viên Toán đồng thời là những người có công trình công bố quốc tế về Toán học của nước ta không bằng một trường đại học lớn ở nước ngoài.

 

Trong khi đó, đầu vào của sinh viên sư phạm và cử nhân Toán có chênh lệch rất lớn. Sinh viên sư phạm Toán có điểm đầu vào cao, ngược lại cử nhân Toán có đầu vào rất thấp, chỉ bằng điểm sàn của Bộ. Do vậy, chất lượng cử nhân Toán học khi ra trường cũng rất yếu.

 

Chất lượng sinh viên yếu dẫn đến hàng năm không có đủ người để đào tạo tiến sĩ về Toán.

 

Cả nước hiện chỉ có 10 cơ sở đào tạo tiến sĩ về Toán là ĐH KHTN - ĐHQGHN, ĐHSP Hà Nội, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐHQG TPHCM, ĐH Sư phạm TPHCM, Viện Công nghệ Thông tin - Viện KH&CN Việt Nam, ĐH Huế, ĐH Vinh, ĐH Đà Lạt và ĐH Thái Nguyên. Trong đó, Viện Toán học là cơ sở đào tạo lâu đời nhất nhưng trong suốt 10 năm qua chỉ tuyển được tối đa 5 nghiên cứu sinh, trong khi đó chỉ tiêu mỗi năm của Viện là 10. Các cơ sở còn lại hàng năm cũng chỉ tuyển được 15 nghiên cứu sinh để bảo vệ luận án tiến sĩ về Toán.

 

Đáng buồn hơn là vừa qua Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) của Mỹ cũng rất khó khăn mới tuyển được nghiên cứu sinh về Toán để đi đào tạo.

 

Sẽ bị tiêu vong, nếu… 

 

Nhiều giáo sư tại hội thảo cũng bày tỏ những quan ngại của mình về tình trạng “thụt lùi” của nền Toán học trong nước.

 

GS Hoàng Xuân Sính than rằng: “Bây giờ giới trẻ không thích học Toán, ngay cả sinh viên đoạt giải quốc tế về Toán khi đi du học nước ngoài toàn chọn ngành kinh tế. Khi tôi hỏi những sinh viên đó thì trả lời rằng chả tội gì đi làm Toán vì Toán “nghèo”.

 

GS Nguyễn Đình Trí thì lo “đến lúc nào đó không còn giảng viên dạy Toán”.

 

Muốn phát triển Toán học không có cách nào khác là phải đẩy mạnh nghiên cứu Toán học. Các trường ĐH nên gắn khoa Toán với Viện nghiên cứu để giảng viên nhận được đề tài nghiên cứu. Mặt khác, cần bố trí giảm thời lượng giảng dạy trên lớp để giảng viên có thời gian nghiên cứu về Toán. Có như vậy, thì mới có “nguồn” Toán học sau này - GS Trí đề nghị.

 

Còn GS Hoàng Tuỵ tiếc rẻ cho biết: “Chúng ta đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để phát triển Toán học, do đó bị tụt hậu so với Singapore, Hàn Quốc hiện nay. Việc mình đứng thứ bao nhiêu trên thế giới không phản ánh được điều gì. Chúng ta chỉ hơn các nước là có một số nhà Toán học có trình độ cao nhưng lại thua các nước về trình độ trung bình”.

 

Theo GS Tụy, giáo dục Việt Nam muốn hội nhập quốc tế mà cứ giữ khư khư tiêu chí như hiện nay thì không “ngoi” lên được. Các nước phát triển thành công là nhờ thu hút được nhân tài trên khắp thế giới. Ông đề nghị, mục tiêu quan trọng nhất của nền Toán học Việt Nam trong thời gian tới là phải giữ vững đội ngũ nhà Toán học có trình độ cao như hiện nay. Đặc biệt, cần có chế độ, chính sách đối với sinh viên theo ngành Toán học để họ kế thừa và phát triển được thành quả nghiên cứu trước đó. Nếu không, thời gian tới, Việt Nam không có nhà Toán học nào có tầm.

 

Viện Toán học đã đưa ra giải pháp để giải quyết tình trạng trên là cử giảng viên đi đào tạo và thực tập tại nước ngoài, giảm giờ dạy đối với giảng viên để tập trung vào nghiên cứu… xây dựng lộ trình đào tạo năng khiếu đặc biệt, xuyên suốt từ bậc THPT đến bậc tiến sĩ.

 

Theo đó, hoàn thiện hệ thống các lớp chuyên Toán, khôi phục lại hệ thống thi học sinh giỏi Toán toàn quốc ở các lớp cuối cấp. Cho phép những học sinh xuất sắc được đặc cách học vượt lớp, vào thẳng đại học để học Toán. Đối với bậc ĐH, tạo những học bổng hấp dẫn cho sinh viên, nghiên cứu sinh và cử đi đào tạo ở các trung tâm toán học lớn trên thế giới…

 

Đặc biệt, trong khi chưa có trường ĐH nghiên cứu về Toán học thì biện pháp thích hợp và chủ yếu chính là lập Viện nghiên cứu và đào tạo cấp cao về Toán học.

 

GS Lê Tuấn Hoa cho biết, đây là cách làm có tính khả thi cao, tiết kiệm, hiệu quả nhất. Vì chúng ta tập trung được lực lượng đầu tàu vốn ít ỏi, để từ đó tạo nên một “quả đấm” mạnh, có sức giải quyết được một số vấn đề lớn.
 
Bảng vàng thành tích thi Toán quốc tế của Việt Nam từ năm 2002-2008:
 

Năm

Số thí sinh

Tổng số điểm

Xếp hạng toàn đoàn

Huy chương

2002

6

166

5/84

3 HCV, 1 HCB, 2 HCĐ

2003

6

172

4/82

2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ

2004

6

196

4/85

4HCV, 2 HCB

2005

6

143

15/91

3 HCB, 3 HCĐ

2006

6

131

13/90

2 HCV, 2 HCB, 3 HCĐ

2007

6

168

3/93

3 HCV, 3 HCB

2008

6

159

12/97

2 HCV, 2 HCB, 2 HCĐ