Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Ngô Bảo Châu - thời thơ ấu


Khi còn bé, tài năng toán học Ngô Bảo Châu từng phải uống sữa quá hạn sử dụng và anh thường xuyên rửa bát, quét nhà, giúp mẹ làm thêm.
>> Ngô Bảo Châu làm giáo sư Đại học Chicago
>> Ngô Bảo Châu - hành trình của một tài năng xuất chúng
Giáo sư Ngô Bảo Châu và bố,
Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng mẹ.
Trò chuyện với VnExpress, mẹ của Bảo Châu là Phó giáo sư tiến sĩ Trần Lưu Vân Hiền đã kể những câu chuyện về thời khó khăn khi anh còn thơ bé, chuyện học toán và cả tình yêu của người con trai tài năng.
Câu chuyện bắt đầu với đề tài bổ đề cơ bản trong “Chương trình Langlands” của Ngô Bảo Châu – công trình được tạp chí Time xếp vào danh sách “10 phát hiện khoa học tiêu biểu năm 2009”. Theo tiến sĩ Hiền, giáo sư Bảo Châu không coi nghiên cứu của anh là “bom tấn”, “kỳ tích” hay “vĩ đại” như lời một số báo ca ngợi. Vị giáo sư 37 tuổi cũng không muốn người ta gọi anh là nhà toán học “xuất chúng nhất” hay “hàng đầu thế giới”. Quan điểm của Bảo Châu là không nên chú trọng quá mức tới lời khen, bởi chẳng ai trở nên thông minh hơn vì được tán dương.
Bảo Châu sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước còn khó khăn. Khác với trẻ em ở các thành phố thời nay, anh thường xuyên phải uống sữa quá hạn sử dụng, người mẹ kể. Những bữa cơm của gia đình anh cũng đạm bạc như bao gia đình khác. Tuy chỉ có một cậu con trai duy nhất, mẹ và cha anh - tiến sĩ Ngô Huy Cẩn - không hề cưng chiều Bảo Châu. Anh luôn bị phạt nếu mắc lỗi và cũng thường xuyên rửa bát, giặt quần áo cũng như giúp mẹ làm thêm để tăng thu nhập. Giống như nhiều học sinh ham học khác, Bảo Châu không bao giờ để bố, mẹ nhắc nhở việc học bài. Trên thực tế phó giáo sư Hiền chỉ thường xuyên giục con … ngủ sớm để bảo vệ sức khỏe.
Quãng thời gian học ở Trường thực nghiệm Giảng Võ ở Hà Nội có ảnh hưởng tích cực tới cách học của Bảo Châu, giúp anh hình thành cách tư duy phản biện, độc lập và sáng tạo. Mỗi khi mượn hay mua được một cuốn sách toán, Bảo Châu thường giải lần lượt từng bài tập từ đầu đến cuối. Đối với các môn khác, anh cũng không học theo kiểu nhồi nhét hay nhớ từng câu chữ.
Một điểm thú vị là cậu học sinh Bảo Châu hiếm khi xem tivi vì anh không thích. Thói quen này vẫn được duy trì tới tận bây giờ. Trong thời gian sống tại Pháp và Mỹ, anh không sử dụng dịch vụ truyền hình cáp để ba cô con gái có nhiều thời gian hơn cho việc học. Vào buổi tối thứ sáu hàng tuần Bảo Châu cho con xem băng video để thư giãn.
"Cô thường nói đùa rằng ba cô con gái của Châu sống như binh sĩ trong trại lính. Mẹ các cháu cũng nói vậy. Các cháu được chiều khi sống cùng ông bà ngoại ở Hà Nội, song khi trở lại Pháp thì phải vào khuôn khổ vì anh chị không có nhiều thời gian để chiều chuộng con. Châu bảo các kênh truyền hình Mỹ không có lợi cho trẻ em vì toàn chiếu những chương trình quảng cáo. Vì thế không khuyến khích các cháu xem tivi kể từ khi sang Mỹ", tiến sĩ Hiền kể.
Sau khi tài năng toán của Bảo Châu được phát hiện, các thầy giáo đã dành nhiều thời gian cho việc bồi dưỡng anh. Trong số những người đó có giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Tuấn Hoa – hiện là Phó viện trưởng Viện Toán học và chủ tịch Hội Toán học Việt Nam. Tuy đam mê toán và chăm chỉ làm bài tập, Bảo Châu không học theo kiểu “quên ăn quên ngủ”. Anh vẫn dành thời gian để đá bóng, đọc truyện, nghe nhạc, chơi đàn violon, đánh cờ tướng hay giúp mẹ làm việc nhà.
Dù nhiều chuyên gia toán đánh giá cao tài năng của Bảo Châu, phó giáo sư Hiền chưa bao giờ nghĩ con thuộc diện “xuất chúng” hay “thần đồng”. Bà cho biết, khi học chuyên toán, lực học của anh ngang bằng so với nhiều bạn cùng lớp. Khi Bảo Châu giành điểm tuyệt đối 42/42 trong kỳ thi Olympic Toán quốc tế khi mới 16 tuổi, cô mừng vì thành tựu của con, song vẫn không nghĩ sau này anh sẽ trở thành một nhà toán học tầm cỡ thế giới.
Một điều thú vị là Bảo Châu cũng tin vào yếu tố tâm linh trong việc thi cử. Trước ngày thi anh thường tới chùa. Ngoài ra anh thích được ông ngoại đưa đi thi và đón về vì có vẻ như ông đem lại sự may mắn. Trong những kỳ thi cậu học sinh Bảo Châu luôn mang theo một lọ penixilin đựng nước sâm. Tiến sĩ Hiền kể rằng hồi ấy bà làm tại Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương nên được ưu tiên mua những mẩu sâm bé xíu rẻ tiền. Vào phòng thi, sau khi đọc đầu bài Bảo Châu lôi lọ nước sâm ra và uống. Sự hiện diện của lọ nước sâm khiến anh cảm thấy vững tâm hơn trong quá trình làm bài.
Bảo Châu lập gia đình ở tuổi 22 với người bạn gái học cùng chuyên toán thời phổ thông. Gia đình giúp anh cân bằng cuộc sống tinh thần với việc nghiên cứu khoa học. Bảo Châu cũng gặp nhiều khó khăn sau khi kết hôn. Tại Đại học Paris 11 anh nhận mức lương 3.000 EUR mỗi tháng, nhưng hàng tháng phải chi 1.500 EUR để trả tiền thuê nhà. Ba cô con gái của anh đều được ông bà nội nuôi tại Hà Nội khi các cháu khoảng một, hai tuổi vì bố mẹ chúng không có nhiều thời gian chăm sóc và không có người giúp việc. Khi được 4-5 tuổi các cháu lại sang Pháp để đoàn tụ với bố mẹ.
Trong mấy năm qua anh hợp tác chặt chẽ với Viện Toán học để nâng cao hoạt động đào tạo toán bậc cao về cả chất lượng và số lượng. Bảo Châu đã mời nhiều giáo sư toán tại Pháp sang Việt Nam để giảng dạy cho Viện Toán học và bản thân anh cũng tham gia giảng dạy. Ngoài ra anh còn liên hệ với một số trường đại học Pháp để các học viên cao học toán có thể tiếp tục học tại những trường đó sau một năm học ở Viện Toán học.
Bảo Châu đang ấp ủ đề án thành lập một viện nghiên cứu đặc biệt giống ở Hàn Quốc. Đó sẽ là nơi mà các nhà khoa học có thể toàn tâm toàn ý với việc nghiên cứu mà không phải lo toan những vấn đề vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày.
Bảo Châu không coi tiền bạc và tiếng tăm là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời. Anh chỉ muốn có một cuộc sống bình thường, giản dị và được làm công việc yêu thích. Châu nói với mẹ rằng, nếu kiếm được nhiều tiền hơn mức cần thiết, anh sẽ sử dụng phần dôi dư vào hoạt động từ thiện, chẳng hạn như giúp đỡ trẻ em nghèo, mồ côi hoặc tật nguyền tại Việt Nam.
VnExpress

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Hành trình của một tài năng xuất chúng

Kết thúc năm 2009, một nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài đã được tạp chí Time bình chọn là người có công trình nghiên cứu thuộc 10 phát minh khoa học tiêu biểu của thế giới năm 2009. Đó là Giáo sư Ngô Bảo Châu.

Giáo sư Ngô Bảo Châu một trong những gương mặt nổi tiếng của toán học Việt Nam đã từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế. Từ 1/9/2010, GS Ngô Bảo Châu sẽ chính thức giảng dạy tại đại học Chicago - một trong số những trường ĐH hàng đầu thế giới.

Giáo sư Ngô Bảo Châu (thứ 3, bên trái).
Học sinh Việt Nam đầu tiên giành 2 huy chương Vàng Toán quốc tế
 
Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội trong một gia đình trí thức. Bố anh là Giáo sư - Tiến sĩ Cơ học chất lỏng Ngô Huy Cẩn, làm việc tại Viện Cơ học Việt nam. Mẹ anh là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Lưu Vân Hiền, công tác tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương. Hồi bé, Ngô Bảo Châu theo học tại Trường Thực nghiệm Giảng Võ. Nhờ khả năng xuất sắc trong Toán học, cậu học sinh nhỏ bé này sau đó đã thi đỗ vào khối phổ thông chuyên toán, trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Mùa hè 1988, mới 16 tuổi, đang học lớp 11 phổ thông chuyên toán, Ngô Bảo Châu đã xuất sắc đoạt Huy chương Vàng trong kỳ thi Olympic toán quốc tế tại Australia. Một năm sau, khi học lớp 12, Ngô Bảo Châu dự tiếp Olympic toán quốc tế tại CHLB Đức, và một lần nữa anh lại đoạt đoạt Huy chương Vàng. Với thành tích này, Ngô Bảo Châu đã trở thành người Việt Nam đầu tiên giành 2 Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế.
Vị Tiến sĩ giành Giải thưởng nghiên cứu Clay

 
Sau đó, Ngô Bảo Châu được Chính phủ Pháp cấp học bổng để sang Pháp theo học Đại học Paris 6. Là người mang chí lớn vươn tới đỉnh cao, hai năm sau anh thi vào hệ đào tạo tiến sĩ của Đại học Sư phạm Paris (École normale supérieure), trường đại học danh tiếng của nước Pháp, và bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ năm 25 tuổi, rồi Luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) năm 31 tuổi. Năm 2004, Ngô Bảo Châu đã được hai trường đại học lớn ở Pháp là Paris 6 và Paris 11 mời làm Giáo sư, và anh nhận lời làm Giáo sư của Đại học Paris 11 vào năm 2005.
Cuối năm 2004, ở tuổi 32, Ngô Bảo Châu cùng nhà toán học người Pháp Gérard Laumon đã được Viện Toán học Clay trao tặng giải thưởng tại Đại học Harvard cho công trình nghiên cứu Le lemme fondamental pour les groupes unitaires (Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita), để "công nhận thành tựu đặc biệt xuất sắc trong toán học" của anh. Công trình của Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon là một bước phát triển tiếp sau công trình của Andrew Wiles chứng minh định lý cuối cùng của Fermat (được tặng Giải thưởng Wolfskehl năm 1997 và Giải thưởng nghiên cứu Clay năm 1999), cũng như công trình của người bạn anh, Laurent Lafforgue, về công thức vết (được tặng Giải thưởng nghiên cứu Clay năm 2000 và Huy chương Fields năm 2002).
Thông thường, một công trình toán học, trước hết, phải được đăng trên tạp chí chuyên ngành hay in trong sách chuyên khảo, để các nhà toán học trên thế giới có cơ hội "săm soi" từng câu, từng chữ trong vòng vài ba năm, xem còn có khiếm khuyết gì cần sửa chữa, bổ sung hoặc bác bỏ hay không, lúc bấy giờ, nếu xứng đáng, mới có thể đem đặt lên bàn làm việc của một hội đồng quốc tế xét tặng giải thưởng. Thế nhưng, công trình của Ngô Bảo Châu chỉ mới đưa lên Internet từ tháng 4/2004, thì cuối năm đã đoạt một trong những giải thưởng toán học danh giá nhất hành tinh!


Top 10 khám phá khoa học năm 2009

 
Trong những năm gần đây, Giáo sư Ngô Bảo Châu làm việc tại trường đại học Université Paris-Sud (Pháp) và Viện Nghiên cứu cao cấp (IAS) ở Princeton (Mỹ). Anh tập trung vào nghiên cứu để tìm cách chứng minh Bổ đề cơ bản Chương trình Langlands (Langlands program). Đây là một lý thuyết mang tính cách mạng trong toán học do nhà toán học Robert Langlands đã phát triển từ năm 1979, có thể nối hai nhóm của toán học là lý thuyết số và lý thuyết nhóm. Langlands cùng các cộng sự của mình đã chứng minh được những trường hợp đặc biệt của định lý cơ bản. Nhưng việc chứng minh các trường hợp tổng quát khó khăn hơn nhiều so với những gì Langlands dự đoán. Trong gần 30 năm qua, Chương trình Langlands vẫn là vấn đề hóc búa với toán học thế giới và là mục tiêu được nhiều bộ óc toán học lớn ở nhiều quốc gia dồn sức từng bước nghiên cứu chứng minh. Chính Giáo sư Ngô Bảo Châu đã nghiên cứu thành công và đưa ra một chứng minh xuất sắc cho bổ đề cơ bản của Chương trình Langlands. Công trình nghiên cứu của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã gây tiếng vang lớn trên thế giới, và được tạp chí danh tiếng Time bình chọn là 1 trong 10 khám phá khoa học tiêu biểu của năm 2009. Theo dự kiến, với công trình toán học của mình, Giáo sư Ngô Bảo Châu được mời tham dự và đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể tại Hội nghị Toán học thế giới 2010 sẽ được tổ chức ở Ấn Độ trong năm nay.


Được Nhà nước phong Giáo sư khi mới 33 tuổi

 
Với những thành tích đạt được ở nước ngoài, năm 2005, Ngô Bảo Châu được Nhà nước ta đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam. Anh được Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước đặc cách phong Giáo sư (với 100% số phiếu) khi mới 33 tuổi mà không cần phải qua chức danh Phó Giáo sư. Việc phong đặc cách này đã bỏ qua một số tiêu chí vẫn được áp dụng ở nước ta trước đây mà hướng tới sự tiếp cận các tiêu chí quốc tế quan trọng nhất đối với giáo sư đại học là trình độ nghiên cứu khoa học, năng lực sáng tạo, chứ không phải là kinh nghiệm truyền thụ những tri thức sẵn có. Cho đến nay, Ngô Bảo Châu vẫn là người trẻ tuổi nhất được phong học hàm Giáo sư ở Việt Nam.
"Cuối năm 2004, một số cán bộ ở Viện Toán có gợi ý tôi làm đơn đề nghị công nhận chức danh Giáo sư, tôi cũng hơi đắn đo. Về phương diện thuần túy khoa học, tôi không nghĩ là mình không xứng đáng, nhưng về phương diện đào tạo thì tôi chưa có đóng góp gì nhiều. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi đã gửi cho các anh ấy đơn vì tin rằng việc được công nhận Giáo sư sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong các kế hoạch công tác nghiên cứu và đào tạo của tôi trong tương lai ở Việt Nam", Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết.


Được bổ nhiệm làm Giảng viên ĐH Chicago

 
Vừa qua, GS Ngô Bảo Châu vừa được bổ nhiệm làm Giảng viên tại Trường đại học Chicago (Mỹ) - một trong các trường ĐH hàng đầu thế giới. Theo thông báo của trường, Ngô Bảo Châu sẽ làm Giáo sư Toán học tại ĐH Chicago kể từ 1/9/2010. Thông báo về việc này, trang web của Trường ĐH Chicago đăng bài viết có tiêu đề "Nhà toán học xuất chúng chấp nhận lời mời giảng dạy tại ĐH Chicago".
Robert Fefferman, Trưởng Khoa Vật lý và Giáo sư Toán của ĐH Chicago, cho biết: "Đây là một trong những nhà toán học tuyệt vời của thời đại chúng ta. Tôi chờ đợi những điều thật sự tuyệt vời từ chàng trai trẻ này".
Peter Constantin, Giáo sư Toán và là Chủ nhiệm khoa Vật lý tại ĐH Chicago, nhận định: "Cùng với việc tuyển dụng Ngô Bảo Châu, sự xuất hiện của Beilinson và Drinfeld cùng các tài năng khác về toán học, khoa Toán đang theo đuổi vai trò hàng đầu của mình trong đất nước".
Ngô Bảo Châu cho biết, anh quyết định giảng dạy tại ĐH Chicago cũng là vì sẽ có cơ hội được làm việc chặt chẽ hơn nữa với các đồng nghiệp tại đây.


Trái tim luôn hướng về quê hương

 
Tuy làm việc ở nước ngoài, nhưng trái tim Giáo sư Ngô Bảo Châu vẫn luôn hướng về quê hương. Anh hy vọng sẽ có thể trở về Việt Nam làm công tác đào tạo trong tương lai gần. Giáo sư cho rằng, việc cải thiện điều kiện nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là rất quan trọng.

Từ những kinh nghiệm thành công của bản thân, Giáo sư Ngô Bảo Châu tâm sự với những bạn trẻ: "Các bạn may mắn hơn nhiều lớp đàn anh vì các bạn có lựa chọn. Đúng là khoa học không phải là con đường dễ dàng và dễ giàu, nó là một con đường chông gai, nên cần có đủ niềm tin và say mê để lựa chọn con đường này. Đổi lại, phần thưởng sẽ là những cảm xúc, những chân lý mà bạn sẽ khó đến gần nếu chọn một con đường khác".  
Theo Dân Trí

Ngô Bảo Châu qua lời kể của mẹ

“Châu được nhiều người biết đến thì cảm giác không thuộc về riêng mình nữa. Thỉnh thoảng cô điện thoại cho Châu nói đùa, mẹ quen với tuổi già cô đơn rồi, mẹ phải điện thoại cho con không con thành "vĩ nhân" mất, chẳng còn thời gian trò chuyện"...
Mẹ của GS Ngô Bảo Châu - PGS.TS. Trần Lưu Vân Hiền hẹn tiếp tôi vào giờ nghỉ trưa tại Trường Trung cấp y dược Lê Hữu Trác (Hà Nội), nơi bà đang làm Phó Hiệu trưởng. Trước đây, bà công tác ở Bệnh viện Y học cổ truyền TW. PGS. Trần Lưu Vân Hiền đón tôi bằng một nụ cười nhẹ nhõm. Bà mang vẻ đẹp thanh lịch của người con gái Hà thành.
Tôi hỏi bà, cảm xúc của bà thế nào khi Ngô Bảo Châu đã quá nổi tiếng và được rất nhiều người yêu mến? PGS. Trần Lưu Vân Hiền giọng bâng khuâng: "Mới đây, trả lời PV Báo Thanh niên, Châu bảo, "Bổ đề cơ bản" là người bạn thân thiết của Châu suốt 15 năm qua, nhưng khi Châu chứng minh được bổ đề này thì nó lại là của mọi người, không còn là của riêng Châu nữa. Cô cũng vậy. Mừng cho con nhưng thấy lòng một chút hụt hẫng, trống trải, Châu được nhiều người biết đến thì cảm giác không thuộc về riêng mình nữa. Thỉnh thoảng cô điện thoại cho Châu nói đùa, mẹ quen với tuổi già cô đơn rồi, mẹ phải điện thoại cho con không con thành "vĩ nhân" mất, chẳng còn thời gian trò chuyện".


GS Ngô Bảo Châu và mẹ.
1. Đúng là đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ. Tôi chợt nhớ tới câu nói của ai đó khi ngồi nghe PGS. Trần Lưu Vân Hiền kể về năm tháng tuổi thơ của Ngô Bảo Châu. Suốt câu chuyện, tôi thấy bà lúc nào cũng thương Châu, xa xót khi thấy anh bận bịu làm toán, ôm đầu trước bài toán khó, ngay cả bây giờ khi anh đã 37 tuổi, đã có gia đình và ba đứa con gái xinh xắn, từ lâu đã quen cuộc sống tự lập xa gia đình. Có lẽ bởi trong thẳm sâu trái tim người mẹ, bà thấy Châu vẫn bé bỏng. Bà kể với tôi, nhiều lúc bà còn lo sợ, không muốn anh học nhiều như vậy vì sợ anh học toán nhiều thành lẩn thẩn thì khổ.
PGS. Trần Lưu Vân Hiền sinh Ngô Bảo Châu vào năm 1972 tại Hà Nội, thời điểm giặc Mỹ đang điên cuồng ném bom miền Bắc. Bố anh, GS.TSKH. Ngô Huy Cẩn vắng nhà liên miên, khi thì đi dạy học cho một số trường quân đội, khi thì đi làm nghiên cứu sinh ở Nga, thành ra mẹ trở thành người bạn thân thiết của Châu từ nhỏ. Châu yêu mẹ, sống tình cảm và đặc biệt, anh rất "tâm đầu ý hợp" với ông ngoại là ông Trần Lưu Hân, một cựu học sinh trường Bưởi và là người mở trường tư thục đầu tiên ở Hà Nội.
Kể về chuyện học của Ngô Bảo Châu, PGS. Trần Lưu Vân Hiền tâm sự, Châu thông minh từ nhỏ, cái gì cũng biết. Học mẫu giáo, các cô giáo gọi Châu là "viên ngọc". Những giờ có giáo viên dự, cô nào cũng muốn có Châu trong lớp. Châu học không phải vì yêu cầu của nhà trường mà là vì nhu cầu của bản thân Châu. Châu học một cách mê đắm, say mê môn toán từ nhỏ. Châu bảo mẹ, có đồng nào mẹ cứ mua sách toán về cho con, sách viết bằng tiếng gì cũng được, cả tiếng Ba Lan, nếu có Châu cũng luận ra được hết.
Có lần, Châu đi thi Olimpic toán học quốc tế trở về, mẹ dọn bàn học cho Châu. Chỉ riêng giấy nháp Châu làm toán đã chất một đống lớn. Mẹ nhìn mà chỉ thấy lòng rưng lệ vì thấy con học vất vả quá. Còn Châu mủm mỉm cười trêu mẹ: "Với đống giấy nháp này, con cũng xứng đáng được giải nhất mẹ nhỉ". Quả thật, năm đó (1988) Châu giành huy chương vàng với số điểm tuyệt đối 42/42. Năm sau, Châu lại tiếp tục đi thi Olimpic toán quốc tế và một lần nữa đăng quang huy chương vàng.
2. Viết về thành tích học tập của Châu, tôi cũng thấy lòng mình thăng hoa cảm xúc rất lạ, bởi nó quá đẹp và hoành tráng, vì ngoài trí tuệ siêu việt, đó còn là thành quả của biết bao năm tháng anh kiên trì, quyết tâm, bền bỉ với một ý chí nghị lực phi thường với các phép toán, bài toán, các định lí, công thức toán học vốn khô khan.
PGS.TSKH. Vũ Đình Hòa, Trưởng bộ môn Khoa học máy tính, Khoa CNTT (Đại học Sư phạm Hà Nội) từng là thầy giáo của Ngô Bảo Châu đã nói với tôi về học trò của mình: "Châu rất xứng đáng được những phần thưởng như thế, ở Châu có một quyết tâm phi thường. Những bài toán khó nhất, khi giao cho Châu tôi thấy yên tâm vì nghĩ thế nào Châu cũng giải được và sự thực là như vậy".
Ngô Bảo Châu là học sinh Việt Nam đầu tiên đoạt hai huy chương vàng Olimpic toán quốc tế. Nhưng con đường nghiên cứu khoa học của anh không dừng ở đó. Anh được cấp học bổng tại Trường Đại học Paris VI, một trường khá tốt của Pháp, nhưng anh còn tiến cao hơn bằng việc thi đậu vào Trường cấp cao Paris - trường danh giá nhất nước Pháp.
Tại đây, anh bắt đầu làm việc với một nhà toán học tài ba của Pháp là G.Laumon. Năm 25 tuổi, Ngô Bảo Châu đã bảo vệ xong luận án tiến sỹ. Anh bắt đầu nổi tiếng thế giới (không chỉ trong giới toán học) khi vào năm 2004, cùng với Giáo sư G.Laumon, anh được Viện toán học Clay trao giải thưởng Clay của Mỹ, một trong những giải thưởng có uy tín của toán học, nhờ giải quyết được một trường hợp quan trọng của "Bổ đề cơ bản" thuộc Chương trình Langlands (sau giải thưởng này, năm 2005, GS G.Laumon được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp).
Tên tuổi của Ngô Bảo Châu càng được chú ý khi năm 2005, với sự đề nghị của Viện toán học, Hội toán học Việt Nam, anh được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam đặc cách phong Giáo sư. Đây là trường hợp duy nhất cho đến nay.
3. Dấu mốc đưa Ngô Bảo Châu là một trong những nhà toán học xuất sắc nhất thế giới là sự kiện, năm 2007, anh được Đức và Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng nhờ giải quyết được hoàn toàn "Bổ đề cơ bản", mặc dù công trình này còn thuộc dạng tiền ấn phẩm, anh chỉ đưa lên mạng cá nhân, chưa được kiểm chứng. Sau đó, năm 2008, anh chính thức hoàn thiện công trình xuất sắc của mình để gửi đăng và từ đó liên tục được mời đi các trung tâm toán học danh tiếng để báo cáo.
Tháng 10/2009, anh được Ban Chương trình Đại hội Toán học thế giới (IMU 2010) mời làm "báo cáo mời toàn thể" sẽ được tổ chức vào tháng 8/2010 tại Ấn Độ. Đây không phải là giải thưởng nhưng là một vinh dự rất đặc biệt, vì chỉ có 20 người được mời làm báo cáo toàn thể. Rất ít người trong đời được hai lần đọc báo cáo mời toàn thể từ cấp tiểu ban trở lên, trong khi Ngô Bảo Châu hai lần liên tiếp được mời (năm 2006 tại Madrid, Tây Ban Nha).
Cái tên Ngô Bảo Châu càng được trong nước và thế giới biết đến bởi một sự kiện trọng đại. Cuối năm 2009, Tạp chí Thời đại (Time) của Mỹ đã chọn công trình của anh là một trong 10 thành tựu khoa học tiêu biểu của năm 2009. Theo Viện toán học Việt Nam cho biết thì đánh giá này phải dựa trên tư vấn của một ban cố vấn khoa học từ nhiều ngành khác nhau. Bình chọn của Time về khoa học rất có uy tín và được nhiều người thừa nhận. Công trình của anh về "Bổ đề cơ bản" Chương trình Langlands chắc chắn có ảnh hưởng lớn những ngành khác, như vật lý. Đây không phải là giải thưởng chính thức nhưng là vinh dự đặc biệt của GS Ngô Bảo Châu.
Mùa hè năm 2007, sau khi nhận lời mời rất thiết tha của Viện Nghiên cứu cấp cao Princeton (IAS), Viện nghiên cứu số một về toán của Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Bảo Châu về làm việc tại IAS, đồng thời vẫn làm việc tại Đại học tổng hợp Paris 11. Và mới đây nhất, trong những ngày đầu năm mới này, anh đã nhận lời làm Giáo sư của Đại học Chicago.
Theo GS.TSKH Lê Tuấn Hoa, Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, mặc dù rất bận bịu nhưng Giáo sư Ngô Bảo Châu vẫn có nhiều đóng góp cho toán học Việt Nam. Anh nhận hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam, anh giới thiệu nhiều sinh viên, nhà nghiên cứu trẻ của Việt Nam với những nhà toán học hàng đầu thế giới.
Anh phối hợp với Viện toán và Đại học Sư phạm Hà Nội đề nghị Nhà nước cho phép mở một chương trình đặc biệt đào tạo thạc sĩ toán trình độ quốc tế. Bản thân anh hiện là đồng giám đốc một đề án của Viện toán. Dù đi đâu, trong anh vẫn là dòng máu Việt Nam với những tình cảm tha thiết dành cho đất nước. Điều này được thể hiện ở một chi tiết rất nhỏ, khi đọc báo cáo mời tại IMU 2006 ở Madrid, anh đã ghi tên hai địa chỉ của mình: Đại học Tổng hợp Paris 11 và Viện Toán học Việt Nam!
GS.TSKH Lê Tuấn Hoa cho hay, giới toán học thế giới ít ai có thể ngờ rằng, "Bổ đề cơ bản" lại được chứng minh một cách chóng vánh như vậy. Đó là một kỳ tích vĩ đại của nền toán học thế giới. Bổ đề này không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển toán học mà còn liên quan đến những ngành khác, đặc biệt là Vật lý lý thuyết. Đây là một giả thuyết - tức là một dự đoán - do Robert Langlands đưa ra vào những năm 60, và sau đó được diễn đạt dưới dạng tổng quát trong một công trình chung của Robert Langlands và Diana Shelstad vào những năm 70. Do vai trò đặc biệt quan trọng của "Bổ đề cơ bản", rất nhiều nhà toán học tài ba đã tập trung sức lực tấn công nó và đã chứng minh được một số trường hợp riêng.
Giáo sư Ngô Bảo Châu công bố một chứng minh hoàn chỉnh cho "Bổ đề cơ bản" trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. Công trình của anh dài thành 188 trang và các nhà Toán học đầu đàn phải mất hơn 1 năm để kiểm chứng các chi tiết của nó…

Theo CAND

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2010

Đề thi học sinh giỏi môn Toán năm 2010 và lời giải

Tuyển tập đề thi và lời giải của các đề thi học sinh giỏi môn Toán cấp Tỉnh năm 2010.
Tác giả: Trần Nam Dũng và các cộng sự
Click vào đây để tải về: Download
Xem thêm: Đề thi học sinh giỏi môn Toán năm 2009 của các 21 tỉnh thành

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

Khi nào Einstein thế hệ kế tục sẽ xuất hiện?

Các bước đột phá lớn trong khoa học là lĩnh vực của các cá nhân chứ không phải của viện nghiên cứu. Galileo, Copernicus, Edison và Einstein đã phải lao động trong phòng thí nghiệm riêng hay suy tư về vũ trụ trong các nghiên cứu cá nhân. Nhưng trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là từ sau thành công phóng vệ tinh Sputnik của Xô Viết vào năm 1957, xu hướng đã tạo ra nhiều viện nghiên cứu lớn thúc đẩy sự hợp tác và những khoản tài trợ lớn.

Hiện nay đạt được bước tiến khoa học lớn trở nên khó khăn hơn. Một nghiên cứu của các nhà khoa học giành được giải thưởng Nobel năm 2005 phát hiện thấy tích lũy kiến thức qua thời gian buộc các khối óc lớn lao động nhiều hơn trước khi họ đạt được đột phá. Kỷ nguyên mà các nhà tư tưởng tạo ra phát kiến vĩ đại đã tăng 6 năm trong thế kỷ 20. 

Đừng vội đặt ra ngoài các thiên tài riêng lẻ lúc này

Sự cân bằng giữa phương pháp cá nhân và phương pháp của viện nghiên cứu là một ý kiến tốt nhất, theo giả thuyết của kỹ sư Adrian Bejan thuộc Đại học Duke – người cho rằng các viện nghiên cứu được lợi ích nhiều nhất từ sự đồng tồn tại của các nhóm lớn tự tổ chức và các nhà khoa học đơn lẻ đưa ra những sáng kiến vĩ đại.

Bejan viết trên số ra tháng 12 tờ International Journal of Design & Nature and Ecodynamics rằng: “Lịch sử thành tựu khoa học được đánh dấu bởi các nhà nghiên cứu riêng lẻ, từ Archimedes đến Newton và Darwin. Các nhà tư tưởng độc lập rất có ảnh hưởng xuyên suốt tiến trình lịch sử bởi bản thân khoa học tự nhiên đã có lợi đối với trí óc của họ cũng như sự phồn vinh của xã hội. Mặc dù xu hướng thiên về các nhóm nghiên cứu lớn, cá nhân vẫn luôn hưng thịnh”.

Thế nhưng quan niệm về thiên tài đơn lẻ được đánh giá hơi quá mức, ngay cả các thiên tài cũng xác nhận điều này.

Như Isaac Newton chẳng hạn, ông nói rằng ông không có thành tựu gì trong nghiên cứu của mình, ví dụ như quy tắc chuyển động và trọng trường đó là bằng cách “đứng trên vai những người khổng lồ”.

Áp lực Xô Viết

Tiến trình nghiên cứu hiện đại thay đổi bất ngờ sau ngày 4 tháng 10 năm 1957, khi Xô Viết cũ trở thành quốc gia đầu tiên đưa tàu Sputnik vào vũ trụ. Sự kiện đã châm ngòi cho quá trình phát triển ngoạn mục trong nguồn tài trợ Hoa Kỳ cho các nhóm nghiên cứu lớn thuộc viện nghiên cứu. Mô hình này được các viện nghiên cứu nhỏ hơn áp dụng, họ cũng đồng thời hình thành nhóm nghiên cứu lớn hơn để thu hút tài trợ.

Tuy nhiên, các nhà tư tưởng lớn độc lập không hề biến mất. Bejan cho rằng họ vẫn tiếp tục phát triển. Ông nghĩ rằng giả thuyết xây dựng của ông ra đời vào năm 1996 có thể giải thích lý do.

Khi nào Einstein thế hệ kế tục sẽ xuất hiện ?

Giả thuyết công bố rằng cái gọi là hệ thống chảy tiến hóa để cân bằng và tối thiểu hóa tính không hoàn hảo, làm giảm xích mích và các hình thức kháng cự khác sao cho lượng năng lượng sử dụng thất thoát ít nhất. Các ví dụ trong tự nhiên bao gồm các dòng sông, con suối bồi đắp nên đồng bằng hoặc các đường khí phức tạp trong lá phổi.

Trong nghiên cứu do con người tiến hành, Bejan nhận thấy có hai dòng chảy chính: dòng ý tưởng dưới dạng phát hiện khoa học, và dòng hỗ trợ được đo bởi các tác nhân hữu hình như quỹ tài trợ và phòng thí nghiệm.

Ông nói: “Các nhóm nghiên cứu thành công là các nhóm tự phát triển và biến đổi qua thời gian. Ví dụ, một cá nhân nảy ra ý tưởng mới, anh ta nhận được tài trợ, và một nhóm nghiên cứu bắt đầu hình thành liên quan đến ý tưởng đó. Điều này tạo nên một khuôn khổ trong đó nhiều nhóm nhỏ đóng góp vào ý tưởng chung”.

Biệt giam

Bejan nghĩ rằng cực đoan không có lợi cho khoa học.

Ông nói: “Nếu một viện nghiên cứu chỉ bao gồm các nhà nghiên cứu đơn lẻ, nó sẽ có nhiều ý tưởng nhưng lại có ít hỗ trợ. Mặt khác, một nhóm lớn vì lợi ích số đông sẽ có nhiều hỗ trợ nhưng lại có ít sáng kiến hơn tính theo số lượng nhà nghiên cứu”.

Vấn đề này là hình ảnh thu nhỏ của nghiên cứu kiểu Xô Viết cũ, nơi mà chính phủ đặt ra mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, đồng thời quy định cấu trúc nguyên khối với các nhà khoa học có cùng mục đích.

Không có sự bất đồng thừa kế nào giữa các đế chế nghiên cứu và các cá nhân, mà là sự cân bằng để phục vụ cho lợi ích lớn hơn.Do đó, các nhà quản lý viện nghiên cứu cần phải thoải mái hơn với các cá nhân có ý tưởng lớn.

Bejan cho biết: “Tôi cho rằng những người quản lý ép buộc cộng sự của họ làm việc theo nhóm lớn chỉ để thu hút tài trợ, để tăng lý lịch của họ hoặc để tốn nhiều giấy hơn. Họ đang hoạt động đối lập với bản chất tự tổ chức của viện nghiên cứu cũng như nghiên cứu. Sự liên kết tuyệt đối trong các nhóm lớn không xảy ra và sẽ không bao giờ xảy ra”.

Einstein thế hệ kế thừa?

Một số người lập luận rằng bản chất của thiên tài là cái không thể hủy bỏ hoặc không thể ngó ngàng tới.

Một nghiên cứu kéo dài 35 năm công bố vào năm 2006 về trẻ em có năng khiếu toán học bẩm sinh sẽ sống như thế nào trong cuộc đời của chúng đã tiết lộ thành phần của một bộ óc vĩ đại nhiều sáng kiến: khả năng nhận thức, cơ hội giáo dục, niềm đam mê và chăm chỉ làm việc. Không phải tất cả mọi người khi sinh ra thông minh rồi sẽ trở thành thiên tài.

Vậy khi nào Einstein thế hệ kế tục sẽ xuất hiện?

Đó là một câu hỏi mà ngay cả Einstein cũng không thể trả lời. Nhưng theo các đối thủ thiên tài vĩ đại khác của Einstein, hai thập kỷ phân cách giữa Einstein và Newton chẳng có nghĩa lý gì. Điều đó có nghĩa là Einstein hậu thế có thể đang là một đưa trẻ sơ sinh hoặc cũng có thể chưa ra đời.

Có phải thiên tài mới làm Toán?

Câu trả lời là hoàn toàn KHÔNG. Để có những cống hiến tốt và hữu ích cho toán học, bạn cần phải làm việc chăm chỉ, nghiên cứu sâu một lĩnh vực, tìm hiểu các lĩnh vực và các công cụ khác, đặt câu hỏi, nói chuyện với các nhà toán học, và suy nghĩ về những "bức tranh lớn". Và tất nhiên, một lượng đủ trí thông minh, kiên nhẫn, và cẩn thận cũng là các yêu cầu. Điều đó không có nghĩa là cần một tố chất thiên tài kì diệu mà từ đó sinh ra các cái nhìn sâu sắc, các lời giải xuất thần cho các bài toán, hoặc những khả năng siêu nhiên khác.
 có phải thiên tài mới làm Toán
Hình ảnh phổ biến về các thiên tài cô độc (và có thể hơi điên) - những người bỏ qua các sách vở và các quy ước và điều khiển bởi một số nguồn cảm hứng không thể giải thích được từ đó tìm ra một lời giải tuyệt vời cho một bài toán làm ngỡ ngàng tất cả các chuyên gia - không những là một hình ảnh duyên dáng và lãng mạn, mà còn là một hình ảnh cực kì không chính xác, ít nhất là trong thế giới của toán học hiện đại. Đúng là ta có các kết quả và hiểu biết ngoạn mục, sâu sắc và đáng chú ý trong toán học, nhưng chúng là những thành công vất vả và thành tựu đó có được nhờ sự tích luỹ trong nhiều năm, nhiều thập kỷ, hoặc thậm chí nhiều thế kỷ với sức làm việc bền bỉ và sự tiến bộ của nhiều nhà toán học giỏi và vĩ đại; việc chuyển biến từ giai đoạn hiểu biết này sang giai đoạn khác là không tầm thường, và đôi khi khá bất ngờ, nhưng vẫn xây dựng dựa trên nền tảng của công việc trước đó chứ không phải là hoàn toàn bắt đầu từ đầu. (Chẳng hạn với công việc của Wiles trong Định lý cuối cùng của Fermat, hoặc của Perelman với giả thuyết Poincaré.)

Thực ra, tôi tìm thấy thực tế của những nghiên cứu toán học ngày nay - trong đó những tiến bộ là có được một cách tự nhiên là hệ quả của công việc khó khăn, trực tiếp bằng trực giác, các tài liệu chuyên ngành, và một chút may mắn - là thoả đáng hơn rất nhiều so với hình ảnh lãng mạn tôi có trước đó là một sinh viên toán đạt được thành tựu từ các nguồn cảm hứng thần bí của một số dòng máu "thiên tài" quý hiếm. Việc "sùng bái thiên tài" trong thực tế gây ra một số vấn đề, vì không ai có thể sản xuất (rất hiếm) nguồn cảm hứng về bất cứ điều gì khi tiếp cận một cách thường xuyên, và với độ chính xác hoàn toàn đáng tin cậy. (Nếu ai đó có ảnh hưởng đến như vậy, tôi khuyên bạn nên hoài nghi về các tuyên bố của họ.) Áp lực cố gắng hành xử theo điều không tưởng này có thể làm cho một số người bị ám ảnh với "những bài toán lớn" hoặc "học thuyết lớn", những người khác mất mọi nghi ngờ đúng đắn trong nghiên cứu hoặc trong các công cụ của họ, và một số người khác chán nản khi tiếp tục nghiên cứu toán học. Ngoài ra, việc cho rằng sự thành công từ tài năng bẩm sinh (ra khỏi tầm kiểm soát) chứ không phải là do nỗ lực, làm việc theo kế hoạch, và giáo dục (trong vòng kiểm soát) có thể dẫn đến một số vấn đề khác.

Tất nhiên, ngay cả khi bác bỏ khái niệm của thiên tài, vẫn còn đó suy nghĩ, một số nhà toán học nhanh hơn, nhiều kinh nghiệm hơn, hiểu biết hơn, hiệu quả hơn, cẩn thận hơn, hoặc nhiều sáng tạo hơn những người khác. Tuy nhiên điều này không bao hàm chỉ các nhà toán học "tốt nhất" mới nên làm toán, đây là sai lầm chung do hiểu nhầm giữa lợi thế tuyệt đối lợi thế cạnh tranh. Các lĩnh vực nghiên cứu và các vấn đề toán học thú vị để nghiên cứu là rất rộng lớn - vượt xa tầm thâu tóm của các nhà toán học "tốt nhất", và đôi khi trong tập hợp các công cụ hay ý tưởng rằng bạn sẽ tìm thấy cái gì mà các nhà toán học giỏi khác có bỏ qua, đặc biệt ngay cả các nhà toán học lớn nhất vẫn còn có những điểm yếu trong một số khía cạnh của nghiên cứu toán học. Miễn là bạn có giáo dục, có đam mê, và một lượng tài năng thích hợp, sẽ có một số phần của toán học, nơi bạn có thể tạo ra các đóng góp liên tục và hữu ích. Nó có thể không là phần quyến rũ nhất của toán học, nhưng thực tế điều này cũng không tệ, trong nhiều trường hợp các điều cơ bản tầm thường của một vấn đề lại trở nên thực sự quan trọng hơn bất kỳ các ứng dụng ưa thích nào. Mặt khác, đúc rút các kinh nghiệm từ các phần không hấp dẫn của một lĩnh vực là cần thiết trước khi có bất kỳ cơ hội để tấn công những bài toán nổi tiếng trong lĩnh vực nào đó; hãy xem các ấn phẩm đầu tay của bất kỳ nhà toán học vĩ đại thời nay để kiểm chứng những gì tôi nói.

Trong một số trường hợp, nhiều tài năng "chưa qua xử lý" trở nên thực sự có hại cho sự phát triển của toán học lâu dài của một người; nếu các lời giải cho các bài toán đến quá dễ dàng, ví dụ như, người đó không cần đặt nhiều năng lượng nhiều vào làm việc chăm chỉ, đặt các câu hỏi ngớ ngẩn, hoặc mở rộng phạm vi của mình, và vì thế cuối cùng các kỹ năng của người đó bị kìm hãm. Hơn nữa, nếu một người quen với sự thành công dễ dàng, họ không thể phát triển đủ tính kiên nhẫn cần thiết để đối phó với vấn đề thực sự khó khăn. Tài năng là quan trọng, tất nhiên, nhưng làm thế nào để phát triển và nuôi dưỡng nó càng quan trọng hơn.

Nên nhớ rằng toán học chuyên nghiệp không phải là một môn thể thao (tương phản sắc nét với các cuộc thi toán học). Mục tiêu trong toán học không phải là để có được thứ hạng cao nhất, "điểm số" cao nhất, hoặc giải thưởng cao nhất, thay vào đó là sự gia tăng hiểu biết về toán học (cả cho chính bạn, và cho đồng nghiệp và sinh viên của bạn), và để gánh vác một phần sự phát triển và các ứng dụng của nó. Để thực hiện những công việc này, toán học cần tất cả những người tốt mà nó có được.
(Theo VnMath.Com, dịch từ blog của Terry Tao)

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Ngô Bảo Châu làm giáo sư Toán tại Đại học Chicago

Nhà toán học Ngô Bảo Châu, người có công trình được vinh danh là phát hiện khoa học quan trọng nhất của năm, vừa nhận lời mời làm giáo sư tại Đại học Chicago, Mỹ.

Theo tờ Newswise, Ngô Bảo Châu chấp nhận quyết định bổ nhiệm vào ngày 25/1. Anh sẽ trở thành giáo sư toán của trường từ ngày 1/9/2010.

“Rõ ràng đây là một trong những nhà toán học xuất sắc nhất thời đại của chúng ta. Tôi kỳ vọng những điều thực sự lớn lao từ người thanh niên này”, Robert Fefferman, giáo sư toán kiêm trưởng khoa Vật lý của Đại học Chicago, phát biểu.

Ông Peter Constantin - trưởng khoa Toán của Đại học Chicago - nhận xét: "Ngô Bảo Châu đã đạt được những thành tựu đột phá. Công trình của cậu ấy là cầu nối giữa hai lĩnh vực (số học và hình học)".

Ngô Bảo Châu, 37 tuổi, được tạp chí Time tôn vinh sau khi anh chứng minh được bổ đề cơ bản trong "chương trình Langlands". Nếu chương trình Langlands được giải quyết, loài người sẽ gần như có được một cái nhìn thống nhất cho nhiều ngành của toán học hiện đại như số học, đại số và giải tích. Khi công trình của Bảo Châu - bao gồm gần 200 trang - được xác nhận là đúng, giới toán học khắp thế giới đã thở phào nhẹ nhõm.

“Cơ hội cộng tác chặt chẽ hơn với các đồng nghiệp tại Đại học Chicago đóng vai trò quan trọng đối với quyết định tới Chicago của tôi. Mọi người đang giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất trong toán học tại khoa Toán của Đại học Chicago”, Bảo Châu tâm sự.

Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972, từng học khối phổ thông chuyên toán của Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Mùa hè 1988, anh tham dự kỳ thi Olympic Toán quốc tế tại Australia và giành huy chương vàng. Mùa hè năm sau anh tiếp tục giành huy chương vàng Olympic Toán quốc tế tại Đức. Cũng trong năm 1989 Châu sang Pháp để học tại Đại học Paris 6. Anh bảo vệ luận án tiến sĩ khi mới 25 tuổi tại Đại học Sư phạm Paris - ngôi trường danh tiếng bậc nhất nước Pháp. Năm 2003, ở tuổi 31, anh hoàn thành luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) tại Đại học Paris 11. Đầu năm sau anh trở thành giáo sư của đại học này.

Vào năm 2004 anh đã nhận giải thưởng nghiên cứu hàng năm của Viện Toán học Clay, Mỹ dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc nhất trong năm nhờ giải quyết một trường hợp đặc biệt của “chương trình Langlands”. Mỗi năm chỉ có một hoặc hai người được trao giải và Châu là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng này.

Sau khi nhận giải thưởng Clay, anh được Viện nghiên cứu khoa học cao cấp tại Princeton của Mỹ mời sang làm việc. Viện này là nơi quy tụ nhiều nhà toán học và nhà vật lý hàng đầu thế giới, trong đó nhiều người từng đoạt giải Nobel và giải Fields. Châu còn nhận được giải thưởng của Viện Nghiên cứu Toán học Oberwolfach dành cho các nhà toán học trẻ châu Âu vào năm 2007 và giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp vào năm 2008.

Nguồn: VNExpress